Đọc hiểu

Đi làm thêm (做兼职)

为了赚一些零花钱,我决定找一份兼职工作。我在学校的公告栏上看到一个招聘信息:校门口的一家奶茶店招兼职员工,每小时十五块钱,每周工作三天,周五、周六和周日,每天工作四个小时。我觉得时间和课表不冲突,就去面试了。奶茶店的老板娘人很好,她问了我几个简单的问题,然后说:'你明天就可以来上班了。'第一天上班,老板娘教我怎么做各种饮料。做奶茶比我以为的复杂多了:先要泡茶,然后加牛奶、糖浆,有的还要加珍珠、椰果或者冰块。我记了很久才把菜单上的二十多种饮料都记住。最忙的时候是下午三四点,排队的人特别多,我的手一直在抖,生怕做错了。有一次我把一杯草莓味的做成了芒果味的,客人说了以后我赶紧给他重新做了一杯。老板娘笑着说:'没关系,刚开始都是这样,过几天就熟练了。'现在我已经干了一个月了,动作比以前快了很多,还交到了几个一起上班的好朋友。最让我开心的是,每个月能赚七百多块钱,不用跟家里要零花钱了。

Bản dịch tiếng Việt:

Để kiếm thêm tiền tiêu vặt, tôi quyết định tìm việc làm thêm.

Tôi thấy trên bảng thông báo trường một tin tuyển dụng: quán trà sữa ở cổng trường tuyển nhân viên bán thời gian.

Mỗi giờ mười lăm tệ, mỗi tuần làm ba ngày: thứ sáu, thứ bảy và chủ nhật, mỗi ngày bốn tiếng.

Tôi thấy không trùng lịch học, liền đi phỏng vấn.

Bà chủ quán trà sữa rất tốt, hỏi tôi vài câu đơn giản, rồi nói: 'Mai em đến làm được rồi.'

Ngày đầu đi làm, bà chủ dạy tôi pha các loại đồ uống.

Làm trà sữa phức tạp hơn tôi tưởng: phải pha trà trước, rồi thêm sữa, siro, có loại còn thêm trân châu, thạch dừa hoặc đá.

Tôi nhớ rất lâu mới thuộc hơn hai mươi loại đồ uống trên menu.

Lúc bận nhất là ba bốn giờ chiều, người xếp hàng rất đông, tay tôi cứ run, sợ pha sai.

Có lần tôi pha nhầm ly dâu thành vị xoài, khách nói rồi tôi vội pha lại cho anh ấy.

Bà chủ cười nói: 'Không sao, mới đầu ai cũng vậy, vài ngày sẽ thành thạo.'

Giờ tôi làm được một tháng rồi, thao tác nhanh hơn trước nhiều, còn kết bạn được mấy đồng nghiệp tốt.

Vui nhất là mỗi tháng kiếm được hơn bảy trăm tệ, không cần xin tiền gia đình nữa.