Đọc hiểu

Thi đấu bóng rổ (参加篮球比赛)

学校每年都会举办一次留学生篮球比赛,今年我们宿舍楼也组了一支队伍参加。队里一共有五个人,来自不同的国家。我们提前两个星期开始练习,每天晚上吃完饭以后去篮球场练一个小时。我负责打后卫,主要是传球和投三分球。比赛那天特别热闹,操场周围站满了加油的同学。我们第一场比赛的对手是经济学院的留学生队。一开始我们落后了六分,我有点紧张,投篮总是投不进。队长大声说:'别急,我们还有时间!'下半场我们调整了战术,我传了一个好球给队友,他转身上篮得了两分。然后我在三分线外投进了一个球,全场都欢呼起来。最后五分钟,比分追平了。在最后三十秒的时候,我们的中锋抢到了篮板球,传给了我,我运球到前场,看到队友在篮下,就传给他,他轻松得分。最终我们以四十二比三十九赢了。大家高兴得抱在一起。虽然我们在半决赛输了,但是第一场比赛的胜利已经让我们非常满足了。

Bản dịch tiếng Việt:

Mỗi năm trường đều tổ chức giải bóng rổ du học sinh, năm nay tòa ký túc chúng tôi cũng lập một đội tham gia.

Đội có năm người, đến từ nhiều nước.

Chúng tôi bắt đầu tập trước hai tuần, mỗi tối ăn cơm xong ra sân bóng rổ tập một tiếng.

Tôi chơi vị trí hậu vệ, chủ yếu chuyền bóng và ném ba điểm.

Ngày thi đấu rất sôi động, quanh sân đứng đầy sinh viên cổ vũ.

Đối thủ trận đầu của chúng tôi là đội du học sinh khoa Kinh tế.

Lúc đầu chúng tôi thua sáu điểm, tôi hơi lo, ném mãi không vào.

Đội trưởng hét lớn: 'Đừng vội, mình còn thời gian!'

Hiệp hai chúng tôi điều chỉnh chiến thuật, tôi chuyền một đường bóng đẹp cho đồng đội, bạn ấy xoay người layup ghi hai điểm.

Rồi tôi ném vào một quả ba điểm, cả sân hò reo.

Năm phút cuối, tỉ số hòa.

Ba mươi giây cuối, trung phong đội ta bắt được bóng bật bảng, chuyền cho tôi, tôi dẫn bóng lên sân trước, thấy đồng đội ở dưới rổ, chuyền cho bạn, bạn ghi điểm dễ dàng.

Cuối cùng chúng tôi thắng bốn mươi hai - ba mươi chín.

Mọi người vui sướng ôm nhau.

Tuy bán kết chúng tôi thua, nhưng chiến thắng trận đầu đã khiến chúng tôi rất mãn nguyện.